Tình huống thực tế: “Ông bà chết có để lại nhà đất. Người con cả và vợ con đang quản lý, sử dụng nhà đất suốt 20 năm kể từ khi ông bà chết. Sau đó, người con cả cũng chết. Hiện nay, vợ và các con của người này tiếp tục quản lý, sử dụng nhà đất. Vậy khi hết thời hiệu yêu cầu chia thừa kế đối với di sản là nhà đất mà ông bà để lại, phần nhà đất này có mặc nhiên thuộc về vợ con người con cả hay không?
Trước hết, căn cứ theo Khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về thời hiệu thừa kế như sau:
Từ quy định trên, nhiều người cho rằng cứ bất kỳ ai đang quản lý di sản thừa kế thì khi hết thời hiệu yêu cầu chia thừa kế, người đó sẽ mặc nhiên trở thành “người thừa kế đang quản lý di sản”. Tuy nhiên, theo hướng dẫn của Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Công văn số 1476/VKSTC-V9 ngày 23/3/2026 thì không phải ai đang quản lý di sản cũng trở thành “người thừa kế đang quản lý di sản”. Công văn này chỉ rõ ra rằng nếu muốn xác lập được quyền sở hữu thì bạn phải chứng minh được tư cách pháp lý của mình. Tư cách pháp lý ở đây là việc chứng minh bạn có phải là Người thừa kế đang quản lý di sản không hay bạn chỉ là Người chiếm hữu di sản được xác lập theo thời hiệu quy định tại Điều 236 Bộ luật dân sự 2015? Lúc này, việc cần làm là bạn phải chứng minh mình thuộc một trong hai tư cách pháp lý vừa nêu. Cũng cần lưu ý thêm là Người thừa kế đang quản lý di sản phải là Người thuộc hàng thừa kế của người để lại di sản hoặc là cháu được thừa kế thế vị, trực tiếp hưởng di sản của ông bà để lại thay cho cha mẹ đã mất trước ông bà.
→ Như vậy, không phải trong mọi trường hợp Người đang quản lý di sản cũng mặc nhiên trở thành người có quyền sở hữu đối với di sản sau khi thời hiệu yêu cầu chia thừa kế đã hết. Nếu là Người thừa kế đang trực tiếp quản lý di sản thì áp dụng Điều 623 Bộ luật dân sự 2015. Nếu là người đang chiếm hữu di sản thì cần phải chứng minh các điều kiện được quy định tại Điều 236 Bộ luật dân sự 2015 thì mới được xác lập quyền sở hữu đối với di sản theo thời hiệu.